![]() |
| Alex Ferguson (hàng đầu, bên phải) chụp hình cùng đội bóng nghiệp dư Queen's Park năm 1957 |
![]() |
| Ferguson bỏ nghề gia công cơ khí để gia nhập Dunfermline năm 1964 |
![]() |
| Ferguson và vợ trong nhà bếp thời thi đấu cho Glasgow Rangers |
![]() |
| Ferguson cũng khá giỏi trong trò bài bạc |
![]() |
| Ferguson chơi cho Rangers và Falkirk rồi sau đó chỉ thi đấu bán thời gian tại các giải nghiệp dư vì bận điều hành công việc kinh doanh một quán bar riêng tại Glasgow |
![]() |
| Ferguson tham gia quản lí đội bóng East Stirling và St Mirren trước khi cùng Aberdeen giành rất nhiều thành công bao gồm chiếc Cúp C2 châu Âu vào năm 1983 |
![]() |
| Ferguson từng làm HLV tạm quyền tuyển Scotland do cái chết của Jock Stein |
![]() |
| Ferguson được bổ nhiệm làm HLV Manchester United năm1986 |
![]() |
| Alex Ferguson ngồi trên 'đống lửa' trong trận ra mắt khi Manchester United bại trận 2-0 trước Oxford United |
![]() |
| Ferguson cũng từng bị CĐV la ó vì những năm đầu không thành công với United |
![]() |
| Cuối cùng: Manchester United đã có thể ăn mừng chiếc Cup FA năm 1990 , chiếc cúp đầu tiên trong kỉ nguyên Sir Alex |
![]() |
| United đã đánh bại Barcelona 2-1 ở Rotterdam và giành Cúp C2 châu Âu năm 1991 |
![]() |
| Ferguson phá vỡ kỉ lục chuyển nhượng cho chữ kí của Gary Pallister với giá trị 2.3 triệu Bảng từ Middlesbrough |
![]() |
| Khoảnh khắc ông chụp cùng siêu sao Eric Cantona năm 1992 |
![]() |
| Mùa giải 92-93: Ferguson ăn mừng chức vô địch giải quốc nội cùng United sau 26 năm chờ đợi. Quỷ Đỏ tạo ra cách biệt 10 điểm so với đội về nhì Aston Villa |
PhC |
00:00 30/11/-0001

























