| Bài viết cung cấp độc quyền bởi ![]() |
“Mày là Maradona hả?”
Sau khi Milan tìm cách đẩy tôi đi, tôi thấy mình giống như một món hàng vừa bị vứt bỏ. Có cảm giác như ai đó ở Milan muốn sự nghiệp của tôi “chìm xuồng” nhanh như tàu Titanic. Theo lẽ thường, tôi phải rất thất vọng mới đúng, nhưng những hành động của Milan lại mang đến tác dụng ngược: chính nhờ thế mà tôi khám phá ra một con người khác của mình, một Andrea Pirlo khác.
Thực ra, ngay từ nhỏ tôi đã cố gắng chống lại những định kiến thông thường. Khi còn bé, tôi biết mình giỏi (đá bóng) hơn người khác, và chúng bắt đầu nói rất nhiều điều không tốt về tôi. Khi cha tôi – ông Luigi – đến xem tôi chơi bóng, có một lần ông ấy đã phải rời khu khán đài mình đang ngồi và chuyển sang khu đối diện, ngồi một mình, để tránh phải nghe những lời lẽ không hay từ phụ huynh của những đứa trẻ khác. Cha và mẹ tôi – bà Lydia - đều cảm thấy không vui vì điều đó, nhưng thật ra họ chẳng việc gì phải xấu hổ. Cứ phớt lờ những kẻ lắm chuyện và đi tiếp là xong. Các “đồng đội” của tôi thậm chí còn hỏi một cách đầy châm chọc và ghen tị: “Thế mày nghĩ mày là ai, Maradona hả?”. Chúng nó nghĩ rằng có thể chọc tức tôi với những câu hỏi kiểu như thế, nhưng không biết rằng đó là một sự tôn vinh không thể tuyệt vời hơn dành cho tôi. Mẹ kiếp, Maradona. Hỏi tôi có phải là Maradona không thì khác nào hỏi (Jury Dmitri) Chechi (VĐV thể dục dụng cụ nổi tiếng của Italia, từng giành 5 chức VĐTG và 1 HCV Olympic – ND) có phải là VĐV thể dục, (Michael) Jordan có phải là VĐV bóng rổ, (Naomi) Campbell có phải là siêu mẫu và Berlusconi có phải là tỷ phú hay không?
![]() |
Một mình chống lại tất cả.
Rắc rối xảy ra khi tôi tham dự một giải vô địch bóng đá dành cho học sinh (năm ấy tôi mười bốn tuổi). Trên danh nghĩa tôi đá cho Brescia, nhưng lúc đó cả đội Brescia chống lại tôi thì đúng hơn. “Chuyền bóng cho tao”, tôi hét lên bằng một thứ tiếng Italia chuẩn mực. Đáp lại chỉ là sự im lặng. “Chúng mày, chuyền bóng cho tao”. Vẫn im lặng, đến mức tôi có thể nghe thấy tiếng mình vọng lại. Tất cả điếc hết rồi. Không ai chịu chuyền bóng cho tôi. Các cầu thủ khác của Brescia phớt lờ tôi và tự chơi bóng với nhau. Tôi vẫn đứng đó nhưng chẳng ai nhìn thấy, hoặc là giả vờ không nhìn thấy. Tôi bị hắt hủi như một thằng mắc bệnh phong, chỉ bởi vì tôi đá bóng giỏi hơn bọn họ. Tôi vật vờ như một bóng ma, như là người chết rồi vậy. Không ai thèm nói gì với tôi. Kể cả nhìn tôi cũng không. Không có một phản ứng gì cả. “Bây giờ, có chuyền bóng cho tao không?”. Vẫn im lặng. Tôi không thể chịu đựng được nữa và bắt đầu khóc. Ngay trên sân, một cách không thể kiềm chế, trước mặt hơn 20 đối thủ (bao gồm cả 10 người bên phía đội tôi). Tôi thấy trầm cảm khủng khiếp, một điều không nên diễn ra ở lứa tuổi này. Lẽ ra tôi phải ra sân, ghi bàn và cảm thấy vui vẻ, thay vì chịu đựng những nỗi stress do người khác gây ra. Nhưng đó cũng là thời khắc mà sự nghiệp của tôi, dù còn rất non trẻ, chứng kiến một bước ngoặt. Có hai hình thức phản ứng: tức giận và bỏ cuộc, hoặc tức giận và tiếp tục thi đấu. Tôi chọn phương án thứ hai, nhưng theo cách của riêng tôi. Chúng không muốn chơi bóng cùng tôi chứ gì? Không sao. Một mình tôi chống lại cả thế giới chứ gì? Cũng không sao. Tôi sẽ chơi một mình, và tôi đủ sức làm điều đó. Tôi cướp lấy bóng, chạy nhanh hơn những gì mình có thể tưởng tượng và lừa qua tất cả, kể cả những người đang khoác áo Brescia như mình, chỉ dựa vào bản năng. Mười người bọn họ không thể ghi bàn vào lưới đối phương, nhưng mình tôi thì có thể. Và tôi bắt đầu tự nói với bản thân mình: “Andrea, có tài năng mà không thể bộc lộ ra cũng là một gánh nặng. Mày ở một đẳng cấp cao hơn bình thường và mày nên tự hào vì chuyện đó. Mẹ Tự nhiên đã ban tặng cho mày một cơ thể tốt, một cú chạm bóng ma thuật. Vậy hãy dũng cảm lên, thực hiện giấc mơ của mình và trở thành cầu thủ bóng đá. Tiến lên, Andrea, tiến lên”.
Chỉ có một Andrea Pirlo
Một năm sau, khi tôi mới 15 tuổi, HLV Mircea Lucescu đưa tôi lên thẳng đội hình 1 của Brescia, nơi tôi phải thi đấu với những đối thủ gấp đôi mình về tuổi tác cũng như kinh nghiệm. Ban đầu, tồn tại trong môi trường đó là điều không hề dễ dàng: có một lần tôi lừa qua ba người trong số bọn họ, nhưng đến khi đối mặt với người thứ tư thì ăn nguyên một cú đạp vào mắt cá. Nhìn thấy cảnh đó, Lucescu chỉ nháy mắt và bảo “tiếp tục đi”. Tuy nhiên dần dần mọi chuyện cũng khá hơn: tỷ lệ nhận bóng/ăn đạp của tôi tăng dần từ 1/10 (cứ nhận được 1 đường chuyền thì bị đốn 10 lần) lên một mức độ chấp nhận được. Quả bóng bắt đầu tìm đến với tôi nhiều hơn. Không chỉ có tôi, mà cả cha tôi cũng thấy rất vui mừng. Cuối cùng ông ấy cũng có thể đàng hoàng ngồi xem trận đấu, ở khu khán đài VIP nhất mà không cần phải bịt tai lại nữa. Ghen tị chỉ là chuyện của bọn học sinh thôi.
Tôi biết lý do vì sao mình lại chuyền bóng tốt: thực ra đó là một bí mật, rằng tôi nhìn trận đấu theo cách không giống mọi người. Một tiền vệ bình thường sẽ quan sát xem các cầu thủ tấn công đang đứng ở đâu trước khi thực hiện đường chuyền, nhưng tôi thì khác. Tôi thường tập trung vào khoảng trống trước mặt mình, nhờ thế tôi cảm thấy không gian trở nên rộng hơn, chuyền bóng và tìm kiếm các khe hở dễ hơn. Một dạng bí quyết về hình học. Người ta vẫn bảo rằng cách chơi bóng của tôi giống với Gianni Rivera (tiền vệ công huyền thoại của Milan và ĐT Italia trong thập niên 1960 và 70, từng giành QBV châu Âu năm 1969 – ND), nhưng tôi chưa từng xem ông ấy thi đấu, kể cả là qua băng ghi hình nên không có điều kiện để đánh giá mức độ chính xác của sự so sánh đó. Mà thực ra tôi cũng không quan tâm rằng mình có giống với một ai đó hay không: rõ ràng là cừu Dolly thì không thể giống với các con cừu khác được. Tôi chỉ muốn là chính mình. Bạn biết vào buổi chiều ngày 9/7/2006 tôi làm gì ở Berlin không? Tôi ngủ, sau đó dậy chơi PlayStation (và chẳng chuẩn bị hay thấy lo lắng gì cả). Buổi tối hôm đó, tôi giành chức vô địch World Cup.
















