HLV đội tuyển Việt Nam: "Hàng nội hay hàng ngoại"

16:46 Chủ nhật 14/04/2013

Dùng hàng nội là yêu nước, nhưng dùng huấn luyện viên nội cho đội tuyển quốc gia lại là chủ đề tranh cãi bất tận. Thể thao và Văn hóa cuối tuần đã đề cập đến vấn đề này rải rác trong nhiều số báo, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi có một đánh giá tổng quát về vấn đề thầy nội – thầy ngoại đã khiến báo giới và người hâm mộ tốn nhiều giấy mực suốt thời gian qua, bắt đầu bằng những con số, những thống kê cứng, nhưng vô cùng thú vị.

Những con số biết nói

Những số liệu dưới đây được tính từ năm 1995, năm đầu tiên mà bóng đá Việt Nam có huấn luyện viên ngoại, với ông thầy nhập khẩu từ Brazil Edson Tavares và triều đại chết yểu chỉ có đúng duy nhất một trận, cho tới hiện giờ, với ông thầy nội bất đắc dĩ Hoàng Văn Phúc. Các số liệu được tổng hợp từ trang chủ của Liên đoàn bóng đá thế giới fifa.com, các trang số liệu bóng đá rsssf.com và soccerway.com cũng như trang từ điển wikipedia.org.

Tỉ lệ chiến thắng của các huấn luyện viên nội (17 trận)

Thắng: 35,3%; Hòa: 29,4%; Bại: 35,3%

Tỉ lệ chiến thắng của các huấn luyện viên ngoại (170 trận)

Thắng: 38,8%; Hòa: 19,4%; Bại: 41,8%

Tỉ lệ chiến thắng của các huấn luyện viên đội tuyển Việt Nam, chỉ tính những người dẫn dắt từ năm trận trở lên

Falko Gotz (Đức): 60,0%, Colin Murphy (Anh): 50,0%, Dido (Brazil): 44,4%, Alfred Riedl (Áo): 44,3%, Karl Heinz-Weigang (Đức): 42,9%, Phan Thanh Hùng (Việt Nam): 35,7%, Edson Tavares (Brazil): 33,3%, Henrique Calisto (Bồ Đào Nha): 28,9%

Falko Gotz dẫn đầu danh sách này chủ yếu do ông dẫn dắt đội tuyển Việt Nam đúng năm trận và có ba chiến thắng, trong khi lại thua hai trận quan trọng và nói lời chia tay sớm. Henrique Calisto, người duy nhất mang về một danh hiệu cho đội tuyển Việt Nam ngoài các giải giao hữu, thật ngạc nhiên, xếp cuối danh sách, có thể một phần vì ông phải đối mặt với quá nhiều đối thủ mạnh.

Xét thêm về thời gian gắn bó với đội tuyển Việt Nam, Alfred Riedl và Karl Heinz-Weigang có lẽ là những người thành công nhất xét về mặt hiệu quả khi họ dẫn dắt đội tuyển đủ lâu và có thành tích chiến thắng đủ ấn tượng.

HLV Calisto cùng ĐT Việt Nam VĐ AFF Cup nhưng xét về số liệu thống kê lại đứng cuối

Số lần thay huấn luyện viên đội tuyển quốc gia của các nước Đông Nam Á tính từ năm 1995

Indonesia: 17, Lào: 16, Việt Nam: 15, Thái Lan: 13, Philippines: 12, Malaysia: 11, Myanmar: 11, Brunei: 9, Campuchia: 9, Singapore: 6.

Việt Nam có 15 lần thay huấn luyện viên từ năm 1995 tới nay, trung bình một huấn luyện viên chỉ trụ được hơn một năm. Tuy nhiên, Việt Nam cũng chỉ sử dụng 10 huấn luyện viên dù thay tướng 15 lần, do Edson Tavares (hai lần), Alfred Riedl (hai lần) và Henrique Calisto (ba lần) được sử dụng lại.

Thái Lan sử dụng 13 huấn luyện viên khác nhau, trong đó có sáu huấn luyện viên nội và một số thầy ngoại danh tiếng như Peter White (Anh, 1998-2000), Peter Reid (Anh, 2008-2009), Bryan Robson (Anh, 2009-2011) hay Winfried Schafer (Đức, 2011-nay).

Con số

66 Alfred Riedl là huấn luyện viên có thời gian dẫn dắt đội tuyển Việt Nam dài nhất với 66 tháng, trải qua ba thời kỳ. Chiến lược gia 64 tuổi người Áo không giành được danh hiệu lớn nào, với chức vô địch duy nhất của Việt Nam, AFF Cup 2008, thuộc về đồng nghiệp của ông, Henrique Calisto. Huấn luyện viên 60 tuổi người Bồ Đào Nha đứng thứ hai trong danh sách gắn bó cùng đội tuyển Việt Nam với 31 tháng.

1 Edson Tavares là huấn luyện viên “yểu mệnh” nhất với ghế huấn luyện viên trưởng khi chỉ dẫn dắt Việt Nam đúng một trận vào năm 1995. Nhiệm kỳ thứ hai của ông kéo dài hơn với 10 tháng (2/2012-12/2012). Có tới năm huấn luyện viên đội tuyển Việt Nam không tồn tại được quá một năm, bao gồm Dido (bảy tháng), Falko Gotz (sáu tháng), Phan Thanh Hùng (bốn tháng), Christian Letard (bốn tháng) và Colin Murphy (hơn một tháng).
00:00 30/11/-0001
Chia sẻ

Bài viết mới Bài cùng chuyên mục