Chuyện World Cup: Vào…

10:45 Chủ nhật 29/06/2014

“Vào”, “không vào”, đó là tiếng hô quen thuộc của bình luận viên trong các buổi tường thuật trực tiếp các trận thi đấu bóng đá (trên sóng phát thanh hay trên truyền hình). World Cup lần thứ 20 đang diễn ra rất sôi nổi tại Brazil và các fan hâm mộ chắc hẳn ai cũng hết sức mong mỏi được nghe tiếng reo “vào” quen thuộc với âm lượng bất thường, ngữ điệu bất thường và với trường độ kéo dài hơn hẳn.

“Vào” (hay trước đây có lúc còn được nói là “dô”, “dzô” theo phương ngữ miền Nam) là tín hiệu ngôn ngữ phát ra khi trái bóng đã vượt qua 2/3 vạch vôi kẻ trước khung thành mỗi đội trong trận đấu. Trong “Từ điển tiếng Việt” (Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng, 2013), từ “vào” đã được thống kê tới 10 nghĩa khác nhau. Điều lạ là không có nghĩa nào chỉ trường hợp “bóng bay vào lưới” này cả.

Xét cho cùng, “vào” là một từ mang tính khẩu ngữ, có giá trị công nhận (hay xác nhận) một bàn thắng được ghi trong một trận đấu bóng. Bàn thắng đó có thể có vai trò là bàn mở tỉ số, san bằng tỉ số hay rút ngắn tỉ số… Theo Vua bóng đá Pele, bàn thắng chính là điều đáng nói nhất, làm nên vẻ đẹp của bóng đá. Vậy thì “vào” chính là từ đẹp nhất khi người ta dùng để nói về sự kiện này.


Nhưng đó là từ của tiếng Việt (tương tự là từ “jyn” trong tiếng Trung, cũng có nghĩa là “vào”), chứ còn các ngôn ngữ khác thì không phải vậy. Chẳng hạn, bàn thắng trong tiếng Nga là “ỵ” (gol), tiếng Pháp, tiếng Anh là “goal”. Từ “goal” trong tiếng Anh có nghĩa chung là “đích, mục đích, mục tiêu”. Trong thể thao (bóng đá, bóng bầu dục, khúc côn cầu…), “goal” được dùng với 2 nghĩa: 1. khung thành, gôn; 2. bàn thắng, điểm. Cũng chính từ gốc từ này mà tiếng Anh có thêm các từ phái sinh khác: gooalee, goalie, goal- keeper (thủ môn, thủ thành), goal-line (vạch khung thành), goal-post (cột khung thành, cột gôn) v.v...

Như vậy, so với tiếng Việt, đã có sự khác nhau về từ loại. Với tiếng Việt, “vào” có thể được coi là một động từ (vào Nam ra Bắc), hay một trạng từ (Bóng bay vào lưới), hay là một hô ngữ mang tính cảm thán (vào!)… Còn với tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Anh thì “gol”, “goal” đích thị là một danh từ.

Nguyên do của sự khác nhau này là, người Châu Âu khi nói “goal” là đã xác nhận một sự kiện (bàn thắng được công nhận, từ “gol, goal” có giá trị định danh) còn người Việt lại có ý xác nhận một sự tình (bóng đã bay qua vạch vôi, “vào” lưới, từ “vào” mang sắc thái động từ). Đây chính là điều lạ vì bóng đá là môn thể thao không phải của người Việt, mà du nhập từ Châu Âu. Nhưng điều thú vị là các từ ngữ liên quan tới môn này (sân bãi, khung thành, đội hình, thủ môn, hậu vệ, tiền đạo, việt vị, thẻ vàng, thẻ đỏ…) đều được người Việt dịch tương đương. Riêng chỉ có tình huống reo vui khi có bàn thắng thì tiếng Việt đã chọn một cách nói của riêng mình.

Trong một trận đấu, có lẽ từ “vào” ít xuất hiện nhất trong các ngôn từ được dùng. Bởi dù là trận đấu cởi mở, “mưa bàn thắng” thì cùng lắm trận đó hai bên hiếm hoi cũng chỉ ghi được trên dưới một chục bàn thắng mà thôi (đa số là vài ba bàn, có khi không có bàn nào). Khi Pele ghi bàn thắng thứ 1.000 trong sự nghiệp thi đấu của mình, bình luận viên của Hãng thông tấn Globo đã hét lên “go… al” kéo dài liên tục tới mười mấy giây. Trong khi đó, một bình luận viên tiếng Việt ngoài việc reo to “vào”, anh ta có thể tiếp tục “thêm mắm, thêm muối”: “Vào! Vào rồi các bạn ạ!

Như vậy bóng đã từ từ lăn vào lưới (trước sự bất lực của thủ môn); Theo xác nhận của công nghệ goal-line thì bóng đã vào lưới…”. Từ “vào” có khả năng phổ cập tới mức là nó đã loại hẳn một biến thể phương ngữ là “dô”, “dzô” vốn cũng được sử dụng khá phổ biến một thời, nhất là trong báo chí và truyền thông các tỉnh phía Nam.
PGS.TS Phạm Văn Tình | 00:00 30/11/-0001
Chia sẻ
Loading...

Bài viết mới Bài cùng chuyên mục