Danh hiệu Copa del Rey tượng trưng cho uy quyền của Hoàng gia, là sự phô bày cho sức mạnh của giai cấp thống trị. Vì vậy, nhiều thế hệ người con xứ Catalan đã hy sinh xương máu để giành giữ nó như một sự thách thức với chính quyền độc tài.
Cuộc thảm sát khủng khiếp
Catalan như là cái gai trong mắt Franco, bởi ở xứ sở này, tình yêu quê hương được hun đúc thành ngọn lửa Cách mạng và sẵn sàng thiêu rụi đế chế của hắn.
Một lẽ tự nhiên, Barca với câu khẩu hiệu “Més que un club” (Hơn cả một CLB) cũng trở thành thù địch. Tên độc tại không ngần ngại sử dụng những thủ đoạn bỉ ổi nhất để tìm cách khuất phục đội bóng áo xanh - đỏ và nâng đỡ CLB ưa thích Real Madrid.
Người ta vẫn không thể nào quên được trận Chung kết Copa del Rey năm 1936, khi Madrid FC (tiền thân của Real Madrid) đụng độ Barcelona tại Mestalla, Valencia. Đó là lúc cuộc nội chiến TBN chưa nổ ra và Francisco Franco vẫn chưa lên nắm quyền thống lãnh.
Nhưng với sự xuất hiện của vị tướng 44 tuổi trên sân, các trọng tài dường như rất “biết ý” lèo lái trận đấu, gián tiếp giúp Madrid FC chiến thắng sát nút 2-1. Chủ tịch Barca lúc đó, Josep Sunyol đã rất bất bình và công khai thể hiện sự phẫn nộ.
Hai tháng sau cuộc gặp gỡ, trên đường di chuyển từ Valencia đến thủ đô Madrid, Josep Sunyol trở thành nạn nhân của màn trả thù bẩn thỉu. Ông bị bè lũ phát xít dưới trướng Franco bắt giữ, tra tấn và sau đó là xử bắn không kết án.
Sự kiện diễn ra ngày 6/8/1936 này là dấu mốc bắt đầu cho những sự khủng bố tiếp theo, buộc toàn đội Barcelona phải lên đường tị nạn ở Mexico và Mỹ trong hai năm 1937-38.
Tháng 1/1939, quân đội Franco chính thức chiếm đóng Catalan và che phủ xứ sở miền Đông TBN trong bóng tối tội ác.
Mượn một trận giao hữu giữa ĐT Tây Ban Nha và đội trẻ Athletic Bilbao tại SVĐ Les Corts của Barcelona, tướng Jose Solchaga đại diện cho chính phủ độc tài tuyên bố sẽ thanh lọc những tư tưởng ly khai và cách mạng.
Quân lệnh đưa xuống đã khiến 35.000 người con xứ Catalan bị tàn sát, trong đó có những nhân vật mà tên tuổi gắn liền với đội bóng Barca như Lluis Companys, cựu tổng thống Catalan từng có công giúp các cầu thủ “Blaugrana” trốn chạy ra nước ngoài.
Đó là ký ức kinh hoàng mà bản thân viên tướng Gambara được Mussolini cử sang trợ chiến cũng phải rùng mình nhớ lại: “Franco đã tiến hành một cuộc một cuộc thanh trừng đẫm máu chưa từng có tại thành phố Barcelona”
Màn “thanh trừng” trên sân cỏ
Khi khói đạn chiến tranh đã tan đi, máy chém và những bản án tử hình không còn là công cụ hữu hiệu, Franco quyết định sử dụng bóng đá như một thứ vũ khí đặc dụng. Đó là thời điểm Cúp Nhà vua được đổi tên thành Copa del Generalisimo (Cúp Tổng tư lệnh) để tôn vinh bản thân vị tướng độc tài.
Tất nhiên, Franco không bao giờ muốn chiếc cúp của mình rơi vào tay những “phần tử phiến loạn” Barcelona. Ngược lại, hắn thường xuyên lợi dụng các trận đấu có mặt đội bóng sắc đỏ xanh để hạ nhục tinh thần Catalan và tôn vinh biểu tượng quyền lực Real Madrid.
Đáng nhớ nhất và nhơ bẩn nhất trong số hàng trăm những trận đấu mà Barca đã phải chịu nhịn dưới thời gã độc tài này là hai trận bán kết năm 1943.
Sau trận lượt đi sặc mùi thiên vị ở Les Cortes (trọng tài phớt lờ 13 lỗi nguy hiểm bên phía Real, điển hình là tình huống Jose Maria Querejeta song phi vào bụng Escola), đội chủ nhà Barcelona tạm dẫn trước 3-0.
Thế nhưng, trận lượt về tại SVĐ Chamartin đã khiến kết quả đảo nghịch 180 độ và trở thành “El bano del siglo” (Vết nhơ của lịch sử),.
Trước khi bước vào cuộc tái đấu, Giám đốc cơ quan An ninh quốc gia Jose Fiant y Escriva de Romani đã trực tiếp cảnh cáo các cầu thủ Barca: "Hãy nhớ rằng các anh là những kẻ phản quốc. Nhờ sự khoan hồng của chế độ, các anh mới được tự do chơi bóng".
Không chỉ đe dọa suông, những nhà cầm quyền đã cho cảnh sát dẫn độ các cầu thủ Barca quanh thủ đô Madrid trước khi tiến vào địa ngục Chamartin.
Gọi đây là địa ngục cũng không ngoa, bởi SVĐ sức chứa 22.500 chỗ ngồi này được nêm chặt bởi những cái đầu nóng.
Đằng sau hai cầu môn, những ultra của Real Madrid được sắp xếp vị trí một cách khéo léo để thoải mái buông ra những lời chửi rủa. Những quả pháo hoa tự tạo liên tục được đốt lên và bùng nổ sát cạnh thủ môn Barca.
Bên đường piste, thay vì làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, các tay sỹ quan thoải mái hò hét: "Hãy giết bọn Catalan. Giết đàn chó Catalan ấy đi". Một khi những người Barca có thái độ phản đối, ngay lập tức họ nhận được những cái bợp tai, gằn giọng: "Đồ chó đẻ phản bội. Mày đã bị bắt vì tội cổ súy phong trào ly khai". Tình trạng trên sân còn khủng khiếp hơn, những Moleiro, Querejat, Souto bên phía Real chỉ có mục tiêu duy nhất là ống quyển của những cầu thủ đội khách. Trọng tài thì có cũng như không, và một vài cầu thủ Barca đã phải bật khóc khi thấy đồng đội lũ lượt rời sân bằng cáng.
Kết thúc 90 phút, Real Madrid thắng 11-1 để lội ngược dòng vào trận chung kết Copa del Rey. Những bóng áo trắng chạy như điên để ăn mừng, trong khi các cầu thủ xứ Catalan phải cố hết sức gắng gượng để không ngã xuống thảm cỏ Charmatin vì đau đớn và tủi nhục. Đó là hình ảnh tiêu biểu nhất về một thời kỳ tăm tối trong lịch sử “Blaugrana”.
Những danh hiệu mà Barca đã đạt được trong thời kỳ Franco:
La Liga (8): 1944–45, 1947–48, 1948–49, 1951–52, 1952–53, 1958–59, 1959–60, 1973–74
Copa del Rey (9): 1941–42, 1950–51, 1951–52, 1952–53, 1956–57, 1958–59, 1962–63, 1967–68, 1970–71.
Cuộc thảm sát khủng khiếp
Catalan như là cái gai trong mắt Franco, bởi ở xứ sở này, tình yêu quê hương được hun đúc thành ngọn lửa Cách mạng và sẵn sàng thiêu rụi đế chế của hắn.
Một lẽ tự nhiên, Barca với câu khẩu hiệu “Més que un club” (Hơn cả một CLB) cũng trở thành thù địch. Tên độc tại không ngần ngại sử dụng những thủ đoạn bỉ ổi nhất để tìm cách khuất phục đội bóng áo xanh - đỏ và nâng đỡ CLB ưa thích Real Madrid.
Người ta vẫn không thể nào quên được trận Chung kết Copa del Rey năm 1936, khi Madrid FC (tiền thân của Real Madrid) đụng độ Barcelona tại Mestalla, Valencia. Đó là lúc cuộc nội chiến TBN chưa nổ ra và Francisco Franco vẫn chưa lên nắm quyền thống lãnh.
Nhưng với sự xuất hiện của vị tướng 44 tuổi trên sân, các trọng tài dường như rất “biết ý” lèo lái trận đấu, gián tiếp giúp Madrid FC chiến thắng sát nút 2-1. Chủ tịch Barca lúc đó, Josep Sunyol đã rất bất bình và công khai thể hiện sự phẫn nộ.
Hai tháng sau cuộc gặp gỡ, trên đường di chuyển từ Valencia đến thủ đô Madrid, Josep Sunyol trở thành nạn nhân của màn trả thù bẩn thỉu. Ông bị bè lũ phát xít dưới trướng Franco bắt giữ, tra tấn và sau đó là xử bắn không kết án.
Sự kiện diễn ra ngày 6/8/1936 này là dấu mốc bắt đầu cho những sự khủng bố tiếp theo, buộc toàn đội Barcelona phải lên đường tị nạn ở Mexico và Mỹ trong hai năm 1937-38.
![]() |
| Trang sử đen tối mà hào hùng của Barca |
Tháng 1/1939, quân đội Franco chính thức chiếm đóng Catalan và che phủ xứ sở miền Đông TBN trong bóng tối tội ác.
Mượn một trận giao hữu giữa ĐT Tây Ban Nha và đội trẻ Athletic Bilbao tại SVĐ Les Corts của Barcelona, tướng Jose Solchaga đại diện cho chính phủ độc tài tuyên bố sẽ thanh lọc những tư tưởng ly khai và cách mạng.
Quân lệnh đưa xuống đã khiến 35.000 người con xứ Catalan bị tàn sát, trong đó có những nhân vật mà tên tuổi gắn liền với đội bóng Barca như Lluis Companys, cựu tổng thống Catalan từng có công giúp các cầu thủ “Blaugrana” trốn chạy ra nước ngoài.
Đó là ký ức kinh hoàng mà bản thân viên tướng Gambara được Mussolini cử sang trợ chiến cũng phải rùng mình nhớ lại: “Franco đã tiến hành một cuộc một cuộc thanh trừng đẫm máu chưa từng có tại thành phố Barcelona”
Màn “thanh trừng” trên sân cỏ
Khi khói đạn chiến tranh đã tan đi, máy chém và những bản án tử hình không còn là công cụ hữu hiệu, Franco quyết định sử dụng bóng đá như một thứ vũ khí đặc dụng. Đó là thời điểm Cúp Nhà vua được đổi tên thành Copa del Generalisimo (Cúp Tổng tư lệnh) để tôn vinh bản thân vị tướng độc tài.
Tất nhiên, Franco không bao giờ muốn chiếc cúp của mình rơi vào tay những “phần tử phiến loạn” Barcelona. Ngược lại, hắn thường xuyên lợi dụng các trận đấu có mặt đội bóng sắc đỏ xanh để hạ nhục tinh thần Catalan và tôn vinh biểu tượng quyền lực Real Madrid.
Đáng nhớ nhất và nhơ bẩn nhất trong số hàng trăm những trận đấu mà Barca đã phải chịu nhịn dưới thời gã độc tài này là hai trận bán kết năm 1943.
Sau trận lượt đi sặc mùi thiên vị ở Les Cortes (trọng tài phớt lờ 13 lỗi nguy hiểm bên phía Real, điển hình là tình huống Jose Maria Querejeta song phi vào bụng Escola), đội chủ nhà Barcelona tạm dẫn trước 3-0.
Thế nhưng, trận lượt về tại SVĐ Chamartin đã khiến kết quả đảo nghịch 180 độ và trở thành “El bano del siglo” (Vết nhơ của lịch sử),.
Trước khi bước vào cuộc tái đấu, Giám đốc cơ quan An ninh quốc gia Jose Fiant y Escriva de Romani đã trực tiếp cảnh cáo các cầu thủ Barca: "Hãy nhớ rằng các anh là những kẻ phản quốc. Nhờ sự khoan hồng của chế độ, các anh mới được tự do chơi bóng".
Không chỉ đe dọa suông, những nhà cầm quyền đã cho cảnh sát dẫn độ các cầu thủ Barca quanh thủ đô Madrid trước khi tiến vào địa ngục Chamartin.
Gọi đây là địa ngục cũng không ngoa, bởi SVĐ sức chứa 22.500 chỗ ngồi này được nêm chặt bởi những cái đầu nóng.
Đằng sau hai cầu môn, những ultra của Real Madrid được sắp xếp vị trí một cách khéo léo để thoải mái buông ra những lời chửi rủa. Những quả pháo hoa tự tạo liên tục được đốt lên và bùng nổ sát cạnh thủ môn Barca.
Bên đường piste, thay vì làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, các tay sỹ quan thoải mái hò hét: "Hãy giết bọn Catalan. Giết đàn chó Catalan ấy đi". Một khi những người Barca có thái độ phản đối, ngay lập tức họ nhận được những cái bợp tai, gằn giọng: "Đồ chó đẻ phản bội. Mày đã bị bắt vì tội cổ súy phong trào ly khai". Tình trạng trên sân còn khủng khiếp hơn, những Moleiro, Querejat, Souto bên phía Real chỉ có mục tiêu duy nhất là ống quyển của những cầu thủ đội khách. Trọng tài thì có cũng như không, và một vài cầu thủ Barca đã phải bật khóc khi thấy đồng đội lũ lượt rời sân bằng cáng.
Kết thúc 90 phút, Real Madrid thắng 11-1 để lội ngược dòng vào trận chung kết Copa del Rey. Những bóng áo trắng chạy như điên để ăn mừng, trong khi các cầu thủ xứ Catalan phải cố hết sức gắng gượng để không ngã xuống thảm cỏ Charmatin vì đau đớn và tủi nhục. Đó là hình ảnh tiêu biểu nhất về một thời kỳ tăm tối trong lịch sử “Blaugrana”.
Những danh hiệu mà Barca đã đạt được trong thời kỳ Franco:
La Liga (8): 1944–45, 1947–48, 1948–49, 1951–52, 1952–53, 1958–59, 1959–60, 1973–74
Copa del Rey (9): 1941–42, 1950–51, 1951–52, 1952–53, 1956–57, 1958–59, 1962–63, 1967–68, 1970–71.
Duy Anh |
00:00 30/11/-0001















