Bạo bệnh của Houllier
Cái đêm mà Liverpool giương cao chức vô địch UEFA Cup, tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần mở sâm-panh ăn mừng. Các cầu thủ khác cũng nghĩ vậy, nhưng Houllier không đồng quan điểm. Ông khuyên nhủ toàn đội hãy kìm nén cảm xúc, chuẩn bị cho vòng đấu cuối cùng ở Premier League để đảm bảo vị trí thứ 3, đồng nghĩa với tấm vé cuối cùng dự Champions League mùa sau.
Tâm lý ban đầu theo phản xạ tự nhiên của cơ thể con người là buồn chán. Nhưng khi giải Ngoại hạng khép lại, tôi mới thấy quyết định của Houllier là hoàn toàn chính xác. Kết thúc vòng 38, Liverpool chỉ hơn Leeds 1 điểm. Sự chuẩn bị của ông không hề thừa thãi dù đối thủ của Liverpool chỉ là Charlton (Liverpool thắng 4-0).
Ngày 13/10/2001, ít giờ trước trận đại chiến gặp Leeds, chúng tôi nhận tin Houllier suy tim khẩn cấp và phải nhập viện. Trên sân, tôi không tài nào tập trung chuyên môn. Những câu hỏi “Ông ấy có trở lại không? Tương lai CLB sẽ ra sao?” cứ văng vẳng bên đầu.
Phil Thompson được chỉ định tạm quyền dẫn dắt đội. Tôi chưa bao giờ nghi ngờ năng lực của Thomo. Năm 1981, ông là đội trưởng của Liverpool thống trị đỉnh châu Âu sau đêm Paris huyền ảo (Liverpool đánh bại Real nhờ pha lập công duy nhất ở phút 82 của Kennedy). Nhưng đấy chỉ là năng lực của Thomo dưới góc độ cầu thủ còn trên ghế chỉ đạo, chưa ai biết ông sẽ đạt được gì?
Đành rằng, Liverpool vẫn giữ được những kết quả tốt ở Premier League nhưng sân chơi châu lục cần một vị thuyền trưởng tài ba. Thomo chưa bao giờ được thử sức tại đây và khó khăn không sớm thì muộn cũng sẽ gõ cửa Liverpool. Tóm lại, tôi vẫn cần Houllier chỉ huy.
Ám ảnh Anfield
Triết lý “kick and run”, tạm dịch “sút và chạy” truyền thống của người Anh bắt đầu lỗi thời, thay vào đó là lối chơi kiểm soát, ban bật ở đoạn ngắn. Đầu thế kỷ 21, ở Arsenal và Chelsea manh nha phong cách chơi bóng đó, sau này trở thành kim chỉ nam mới của hệ thống chiến thuật toàn cầu.
Một ngày, Jussi Jaaskelainen (thủ môn của Bolton) hỏi tôi: “Cậu là chân sút nguy hiểm nhất tôi từng đối mặt trong những năm qua (7 lần vào lưới nhặt bóng) nhưng nếu cứ băm bổ sút thì e rằng, cái chân sẽ không còn nghe theo cái đầu của cậu. Theo tôi, hãy tập cách sút bình thường, nhẹ nhàng thôi nhưng đủ hiểm hóc.” Ban đầu, tôi ngó lơ tới lời khuyên của Jaaskelainen nhưng ngày 20/11/2001, khi Liverpool tiếp đón Barca, tôi mới thấm thía chỉ bảo của bậc đàn anh.
Michael Owen mở tỷ số song đó là tất cả những gì Liverpool làm được. Barca nhanh chóng kiểm soát thế trận, cầm bóng tới 81% thời lượng. Với cá nhân tôi, đó thực sự là đêm kinh hoàng. 90 phút có mặt trên sân, số lần chạm bóng của tôi chỉ là 6, và 5/6 lần chạm bóng bị can thiệp ngay từ giây đầu tiên bởi các cầu thủ Barca.
![]() |
| Steven Gerrard. Ảnh: Internet. |
Vấn đề lúc này không chỉ nằm ở HLV. Bóng đá thế giới đã bắt đầu thay đổi. Chuyền dài, sút xa, tạt cánh chân phương không còn chỗ đứng. Câu chuyện được đẩy lên tầm vĩ mô và tôi mãi mãi không bao giờ thất bại tại Anfield. Trận đấu đó mở ra một thời đại mới, ở đây chỉ bàn riêng tới số phận của Liverpool. Tôi bắt đầu có dự cảm không lành về tương lai của CLB, mất đi sự tin tưởng vào đồng đội bất chấp Houllier đã trở lại.
Tôi bàn bạc với cha về dự định mới. Ông tìm kiếm những mối liên hệ bên ngoài và M.U hay Chelsea đã gặp trực tiếp tôi, chào mời mức lương 20.000 bảng/tuần, con số kỷ lục thời ấy. Nhưng một xích mích nhỏ khiến vụ thương thảo đổ bể: "Cha tôi yêu cầu được nhận 5% tiền hoa hồng nếu vụ chuyển nhượng diễn ra suôn sẻ, nhưng phía Chelsea không chấp nhận. Thế là, tôi tiếp tục ở lại Liverpool."
Chia tay World Cup
Đầu mùa giải 2001/02, các bác sỹ ở Liverpool đã cảnh báo về tình trạng sức khỏe. Tôi phát triển quá nhanh so với tuổi, khung xương bắt đầu to ra nhưng không đảm bảo chế độ tập luyện và dinh dưỡng khoa học. Lưng đau, hông đau, háng đau, không tuần nào tôi không phải tham gia buổi vật lý trị liệu với đội ngũ nhân viên y tế của Liverpool.
Hai tháng trước ngày khởi tranh World Cup 2002, tôi biết mình có tên trong danh sách triệu tập sơ bộ của HLV Sven Goran Eriksson. Nhưng để đảm bảo chắc suất đến Nhật Bản và Hàn Quốc, bác sỹ của Liverpool khuyên tôi nên phẫu thuật giải quyết triệt để chấn thương háng.
Lúc này, tôi đứng giữa ngã ba đường. Liverpool đang rơi vào cảnh hỗn loạn khi Houllier không đảm bảo được sức khỏe. Tôi cần ra sân và góp sức vào chiến dịch bảo vệ vé đến Champions League. Cuối cùng, tôi đưa ra lựa chọn tiêm thuốc giảm đau hàng tuần, hy vọng vào những điều may mắn.
Không may là vòng đấu cuối cùng của mùa giải, trong chiến thắng 5-0 của Liverpool trước Ipswich, tôi tự làm rách cơ háng của mình khi cố gắng đuổi theo trái bóng sắp lăn ra biên. Buổi chụp phim tiến hành tối cùng ngày và tôi nhận tin phải lên bàn mổ sáng sớm hôm sau nếu không muốn giải nghệ sớm.
Ca mổ diễn ra thành công tốt đẹp nhưng tôi cần tối thiểu 2 tháng để hoàn toàn bình phục chấn thương, đồng nghĩa với giấc mơ World Cup tan biến. Một năm tồi tệ, khi người thầy tôi hết mực kính trọng lâm nguy vì bạo bệnh, Liverpool thất bát ở đấu trường châu Âu và ước mơ tham dự ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh không thành.
Hè 2002, tôi chủ yếu làm bạn với máy chơi điện tử playstation, đi ăn với gia đình, đến các sân bóng phong trào xem bọn nhóc đá bóng. Nhưng chừng ấy là không đủ giúp tôi vơi đi nỗi buồn. (Còn tiếp... )















